Trang chủ  Hoạt động LM HTX và thành viên
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp trong tình hình mới
Đăng ngày: (05-01-2012); Số lượt đọc: 14
Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị khóa XV vừa tiến hành tổng kết thực hiện Nghị quyết số 13- NQ/TU ngày 5/1/2004 của Tỉnh ủy khóa XIII về phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) đến năm 2010.
Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị khóa XV vừa tiến hành tổng kết thực hiện Nghị quyết số 13- NQ/TU ngày 5/1/2004 của Tỉnh ủy khóa XIII về phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) đến năm 2010.

Báo cáo tổng kết cho thấy, sau hơn 7 năm thực hiện Nghị quyết về phát triển CN-TTCN, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh luôn giữ vững được nhịp độ phát triển; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2004 - 2010 đạt 19,6%. Cơ cấu giá trị ngành công nghiệp trong GDP của tỉnh chuyển dịch chậm. Nếu năm 2004, tỷ trọng giá trị ngành công nghiệp trong GDP của tỉnh là 12,44% thì đến năm 2010 chiếm 13,6% (Nghị quyết đề ra là 18%).

Tập trung phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, sử dụng nhiều lao động và bảo vệ môi trường. Chú trọng các ngành tỉnh có lợi thế như: chế biến nông lâm thủy sản và đồ uống; sản xuất vật liệu xây dựng và xi măng; khai thác chế biến khoáng sản, nước khoáng và khí đốt; hóa chất phân bón; cơ khí và sản xuất sản phẩm từ kim loại; cấp điện và năng lượng; sản xuất và phân phối nước; các ngành may mặc, giày da, lắp ráp điện, điện tử, điện lạnh. Khuyến khích phát triển công nghiệp ở nông thôn, các nghề tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống. Tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế. Đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư lớn để tạo ra các cơ sở công nghiệp chiến lược trong tỉnh.

Cơ cấu sản xuất nội bộ ngành công nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác và tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến. Một số dự án nằm trong chương trình tổng thể thực hiện Nghị quyết 13 đã hoàn thành và đi vào hoạt động, góp phần quan trọng vào phát triển của ngành công nghiệp tỉnh như công trình thủy lợi - thủy điện Quảng Trị, nhà máy tinh bột sắn Hướng Hóa, nhà máy tinh bột sắn FOCOCEV Hải Lăng, nhà máy gỗ ván MDF VRG, nhà máy nghiền zircon siêu mịn; nhà máy may Hòa Thọ - Đông Hà; Công ty Cổ phần cà phê Thái Hòa Quảng Trị…

Một số dự án khác đang tích cực đẩy nhanh tiến độ thực hiện như trạm nghiền Clinke 25 vạn tấn/năm, nhà máy dệt may Phong Phú, nhà máy sản xuất que hàn Xuyên Á, nhà máy hoàn nguyên Inlmenit, nhà máy thủy điện Hạ Rào Quán, thủy điện La La... Đã hình thành trên địa bàn tỉnh được 2 khu công nghiệp, 1 khu kinh tế và 13 cụm công nghiệp làng nghề, thu hút được 98 dự án, với 6185,76 tỷ đồng. Kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp – làng nghề đang được tập trung xây dựng và hoàn thiện. Công tác xúc tiến, kêu gọi các nhà đầu tư vào thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh được quan tâm đáp ứng nhu cầu phát triển CN-TTCN của các địa phương.

Ngành công nghiệp đã tạo ra được một số sản phẩm như gỗ MDF, tinh bột sắn, săm lốp xe máy, nước tăng lực, cao su mủ tấm, bột cà phê, nhựa thông; gạch ngói đá xây dựng, titan, cát sạn; phân vi sinh, phân NPK, nhựa dân dụng; thép cán, gia công các sản phẩm cơ khí xây dựng; điện, nước và một số sản phẩm ở các làng nghề...cơ bản đáp ứng một phần nhu cầu thị trường trong và ngoài tỉnh.

Để CN-TTCN phát triển, tỉnh đã ban hành kịp thời một số chính sách, đề án để thúc đẩy phát triển công nghiệp như chính sách khuyến công, hỗ trợ khuyến khích đầu tư; quy hoạch xây dựng vùng nguyên liệu sắn, nguyên liệu gỗ, thủy điện nhỏ; đề án đào tạo nguồn nhân lực (trọng tâm là đào tạo nghề cho người lao động)....đã phát huy được các nguồn lực cho phát triển công nghiệp.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì phát triển CN-TTCN trên địa bàn tỉnh vẫn còn có những hạn chế, khó khăn, đó là: Việc triển khai thực hiện Nghị quyết 13- NQ/TU trong điều kiện tình hình kinh tế đất nước có nhiều khó khăn như khủng hoảng tài chính, tiền tệ, suy giảm kinh tế, lạm phát tăng cao, khí hậu, thời tiết có nhiều biến đổi bất thuận... Một số cấp ủy, chính quyền địa phương khi triển khai nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết chưa kết hợp với việc xây dựng chương trình hành động.

Tình hình triển khai học tập Nghị quyết còn kéo dài, thụ động trong tổ chức và triển khai thực hiện. Công tác chỉ đạo điều hành và phối hợp tổ chức thực hiện của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở vẫn còn thiếu tính đồng bộ, cụ thể và kịp thời. Điểm xuất phát nền công nghiệp của tỉnh còn nhỏ bé về quy mô và giá trị; công nghệ và thiết bị lạc hậu, chậm được đổi mới; kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ công nghiệp còn thiếu và yếu.

Tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp cao nhưng giá trị tuyệt đối và tỷ trọng trong GDP của tỉnh thấp. Các doanh nghiệp công nghiệp hầu hết có quy mô sản xuất nhỏ, năng lực tài chính kém, khả năng huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển còn hạn chế. Chưa hình thành được các cơ sở sản xuất công nghiệp hiện đại và các sản phẩm có sức cạnh tranh cao làm động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành mặc dù đã được quan tâm nhưng chất lượng quy hoạch, kế hoạch chưa theo kịp xu thế phát triển của nền kinh tế, chưa dự báo được những rủi ro, thách thức trước mắt và lâu dài.

Một số dự án lớn đã được đề ra trong chương trình phát triển của giai đoạn quy hoạch, nhưng do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nên chậm triển khai, triển khai cầm chừng hoặc không thực hiện được đã ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành (như dự án Bia, xi măng, chế biến thuỷ sản...). Chính sách ưu đãi khuyến khích đầu tư trên địa bàn chưa được kịp thời điều chỉnh, bổ sung phù hợp với Luật Đầu tư hiện hành. Bộ máy tổ chức xúc tiến đầu tư thiếu ổn định và phân tán ở nhiều cơ quan.

Sự phối hợp giữa các cơ quan chưa chặt chẽ nên hiệu quả xúc tiến đầu tư mang lại chưa cao. Quản lý nhà nước ngành công nghiệp còn nhiều bất cập. Nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển công nghiệp hạn chế. Đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật lành nghề còn thiếu. Công tác đào tạo lao động chưa đáp ứng với nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp.

Để tiếp tục đẩy mạnh phát triển CN-TTCN đạt kết quả, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện tốt các định hướng cơ bản sau:

Thực hiện nhất quán quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XV và Chương trình hành động của BCH Đảng bộ tỉnh về tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV về phát triển CN-TTCN giai đoạn 2011 – 2015.

Tập trung rà soát, đánh giá, điều chỉnh các loại quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực công nghiệp, các khu, cụm công nghiệp của tỉnh, huyện, thị, thành phố theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt để làm cơ sở bố trí sản xuất và đầu tư.

Tập trung phát triển các ngành công nghiệp mà địa phương có khả năng cạnh tranh. Ưu tiên phát triển mạnh những ngành công nghiệp có lợi thế so sánh, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của tỉnh; phát triển hợp lý các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động. 

Đặc biệt chú ý đến phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến. Phát huy hiệu quả các cơ sở sản xuất hiện có; đầu tư mở rộng phát triển sản xuất để tăng nhanh giá trị của ngành CN-TTCN để phấn đấu tốc độ tăng giá trị gia tăng ngành công nghiệp - xây dựng thời kỳ 2011 - 2015 đạt bình quân 17 - 18%/năm và thời kỳ 2016 - 2020 đạt bình quân 16 - 17%/năm.

Xác định các trọng tâm, trọng điểm ưu tiên để tập trung chỉ đạo bố trí đầu tư hợp lý. Hoàn thành lập quy hoạch Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị, kiến nghị Chính phủ đưa vào quy hoạch hệ thống khu kinh tế của cả nước, kêu gọi đầu tư và phấn đấu xây dựng cơ bản hoàn thành trước năm 2020. Tích cực kêu gọi thu hút đầu tư và chuẩn bị các điều kiện để có thể khởi công xây dựng một số dự án trọng điểm trong khu kinh tế này .

Tập trung phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, sử dụng nhiều lao động và bảo vệ môi trường. Chú trọng các ngành tỉnh có lợi thế như: chế biến nông lâm thủy sản và đồ uống; sản xuất vật liệu xây dựng và xi măng; khai thác chế biến khoáng sản, nước khoáng và khí đốt; hóa chất phân bón; cơ khí và sản xuất sản phẩm từ kim loại; cấp điện và năng lượng; sản xuất và phân phối nước; các ngành may mặc, giày da, lắp ráp điện, điện tử, điện lạnh. Khuyến khích phát triển công nghiệp ở nông thôn, các nghề tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống. Tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế. Đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư lớn để tạo ra các cơ sở công nghiệp chiến lược trong tỉnh.

Đầu tư chiều sâu, sử dụng công nghệ mới, hiện đại, cải tiến máy móc thiết bị, tạo sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh cao. Kết hợp phát triển công nghiệp qui mô lớn, qui mô vừa và nhỏ, phát triển ngành nghề nông thôn.

Đào tạo nguồn lao động đảm bảo chất lượng, nhất là đội ngũ lao động kỹ thuật, công nhân lành nghề, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh công nghiệp. Phát triển công nghiệp gắn liền với giữ gìn và bảo vệ môi trường.

File đính kèm:
NGUYỄN THẾ QUẢNG
Tin khác
 
VĂN BẢN MỚI
Thông báo
Website liên kết
Thăm dò dư luận
Đánh giá của bạn về website này


Thống kê truy cập
trực tuyến 87
ngày hôm nay 1
ngày hôm qua 10
tuần này 17
tất cả 606